Luật trợ giúp pháp y

Ngày 29/6/2006, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Trợ giúp pháp lý (TGPL), tạo cơ sở pháp lý quan trọng thúc đẩy công tác TGPL phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu TGPL, góp phần nâng cao nhận thức của người dân về pháp luật nói chung, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nghèo, đối tượng chính sách và người có hoàn cảnh khó khăn nói riêng.

Trước yêu cầu phát triển của đất nước, triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, nhiều đạo luật quan trọng mới được Quốc hội ban hành, nhiều chính sách cải cách được thông qua nhằm tăng cường cải cách pháp luật, cải cách tư pháp theo định hướng của Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và yêu cầu chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, hoạt động TGPL đã bộc lộ hạn chế, bất cập sau:

Thứ nhất, diện người được TGPL còn chưa đầy đủ; quy định về người được TGPL chưa hợp lý, tản mạn ở nhiều văn bản do có sự thay đổi, bổ sung chính sách an sinh xã hội (Nghị định hướng dẫn Luật TGPL, các Luật có liên quan ban hành sau Luật TGPL quy định về người được TGPL gồm nạn nhân bị mua bán theo Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011, người khuyết tật theo Luật Người khuyết tật năm 2010, trẻ em theo Luật Trẻ em năm 2016). Hơn nữa, quy định người được TGPL cũng chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực tiễn và tinh thần Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 và các điều ước quốc tế liên quan khác mà Việt Nam là thành viên. Mặt khác, khoảng cách trong việc tiếp cận pháp luật có sự chênh lệch, một số đối tượng khó khăn về tài chính không có điều kiện chi trả cho các dịch vụ pháp lý nhưng chưa được tiếp cận dịch vụ TGPL để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Thứ hai, hoạt động TGPL có bản chất là giúp đỡ các đối tượng yếu thế giải quyết các vụ việc cụ thể khi họ phải đối mặt với pháp luật chưa được quan tâm đúng mức; còn lẫn lộn với các hoạt động khác, nhiều lúc TGPL được thực hiện một cách dàn trải, thậm chí mang tính chất phong trào. Một nguồn lực lớn của Nhà nước (nguồn lực con người và tài chính) dành cho các hoạt động như tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua sinh hoạt Câu lạc bộ TGPL, TGPL lưu động. Trong khi đó, số lượng vụ việc TGPL được thực hiện bằng các hình thức như tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, tư vấn pháp luật tại trụ sở và tư vấn tiền tố tụng là những yêu cầu thiết thực và đúng bản chất của TGPL thì còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn.

Thứ ba, chất lượng vụ việc TGPL nhiều lúc còn chưa được bảo đảm; chất lượng dịch vụ TGPL chưa được xã hội đánh giá cao, chưa ngang bằng với dịch vụ pháp lý có thu phí do luật sư cung cấp. Chất lượng một số vụ việc tham gia tố tụng còn yếu, chưa có nhiều vụ việc TGPL được thực hiện từ giai đoạn điều tra hình sự, vụ việc TGPL tố tụng dân sự, tố tụng hành chính còn khá hạn chế; cơ chế quản lý chất lượng, việc kiểm tra, giám sát, đánh giá chất lượng vụ việc TGPL chưa được chú trọng, còn hình thức, hiệu quả chưa cao. Hoạt động TGPL chưa chuyên nghiệp; quy định về điều kiện, tiêu chuẩn của Trợ giúp viên pháp lý chưa tương đương với luật sư trong khi dịch vụ mà họ cung cấp không khác so với luật sư là chưa phù hợp với yêu cầu thực tiễn và thông lệ quốc tế (chưa có quy định phải trải qua thời gian tập sự TGPL và kiểm tra kết quả tập sự TGPL); tiêu chuẩn, điều kiện của cộng tác viên TGPL khác (ngoài luật sư) còn thấp, chưa đồng đều. Số lượng vụ việc tham gia tố tụng do Trợ giúp viên pháp lý thực hiện với tư cách là lực lượng chuyên trách còn thấp (chiếm khoảng 30% tổng số vụ việc tham gia tố tụng), vẫn còn Trợ giúp viên pháp lý thiếu kỹ năng, kinh nghiệm hành nghề, lúng túng khi tham gia tố tụng.

Thứ tư, thực tế vẫn còn hiện tượng chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu TGPL do thiếu nguồn lực thực hiện (thiếu luật sư hoặc Trợ giúp viên pháp lý có kinh nghiệm để giải quyết vụ việc hoặc thiếu kinh phí chi trả cho vụ việc), nhất là ở vùng sâu, vùng xa, các tỉnh chưa tự cân đối ngân sách nên vẫn bỏ sót người được TGPL có nhu cầu. Trong khi đó, quy định của pháp luật hiện hành chưa có cơ chế điều phối nguồn lực giữa các địa phương, do vậy quyền được TGPL của một bộ phận người dân chưa được bảo đảm trên thực tế.

Thứ năm, tổ chức bộ máy TGPL còn cồng kềnh, hiệu quả huy động sự tham gia của xã hội còn hạn chế: Bộ máy, tổ chức của một số Trung tâm còn cồng kềnh, nhiều Chi nhánh được thành lập nhưng thiếu nguồn lực bảo đảm hoặc kết quả hoạt động không cao; việc đầu tư kinh phí bảo đảm cho công tác TGPL chưa tương xứng với nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra, hiệu quả sử dụng kinh phí của các tổ chức TGPL nhà nước trong thời gian qua chưa hợp lý. Còn thiếu các chính sách ưu đãi, hỗ trợ nên chưa tạo được động lực cho các tổ chức, cá nhân trong xã hội thực hiện dịch vụ TGPL (như chưa có cơ chế hỗ trợ kinh phí cho các tổ chức tham gia TGPL...), do đó việc huy động các nguồn lực xã hội tham gia TGPL còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu thực tế.

Thứ sáu, quy trình, thủ tục tiếp nhận và thực hiện TGPL chưa tạo thuận lợi cho người được TGPL; chưa ứng dụng công nghệ thông tin; chưa quy định thời hạn trả lời yêu cầu TGPL; việc tiếp nhận yêu cầu TGPL của người được TGPL từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác chưa được điều chỉnh ở văn bản luật. Mặt khác, quy định thời hạn cử người thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng chưa bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL; chưa có quy định giảm bớt các thủ tục hành chính đối với những trường hợp khẩn cấp phải được TGPL ngay (như người bị bắt theo Bộ luật Tố tụng hình sự).

 

Tải về Download

Tin tức khác