LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC NĂM 2017

Qua 06 năm thi hành, Luật TNBTCNN năm 2009 đã trở thành công cụ pháp lý quan trọng để cá nhân, tổ chức bị thiệt hại bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm trong thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức và chất lượng hoạt động của bộ máy nhà nước. Từ ngày 01/01/2010 đến 31/12/2015, các cơ quan có trách nhiệm bồi thường đã thụ lý, giải quyết 258 vụ việc yêu cầu bồi thường; đã giải quyết xong 204 vụ việc (đạt tỷ lệ 79%), với tổng số tiền Nhà nước phải bồi thường là 111 tỷ 149 triệu 416 nghìn đồng. Kết quả đó cho thấy Luật đã đi vào cuộc sống, cơ bản đã đạt được các mục tiêu đề ra, tuy nhiên, trước yêu cầu của thực tiễn phát triển đất nước, Luật TNBTCNN năm 2009 đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập như sau:

1. Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và thiệt hại được bồi thường còn thiếu đồng bộ so với Hiến pháp năm 2013 và các quy định của Bộ Luật dân sự, Bộ Luật Hình sự, Bộ Luật tố tụng hình sự, Luật tố tụng hành chính, Luật xử lý vi phạm hành chính, Luật khiếu nại, Luật tố cáo... Theo Hiến pháp năm 2013: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự” (khoản 5 Điều 31). Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về trường hợp người bị thiệt hại do hoạt động tố tụng hình sự gây ra bao gồm “Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án oan, trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh sự (khoản 1 Điều 31). Nhưng Điều 26 Luật TNBTCNN năm 2009 thì không điều chỉnh đối tượng là “người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp” và “người bị bắt”. Theo Khoản 2 Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015: “. mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định”. Quy định này để phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại, nhưng, Khoản 4 Điều 47 Luật TNBTCNN năm 2009 quy định “Thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong trường hợp sức khoẻ bị xâm phạm được xác định căn cứ vào mức độ sức khoẻ bị tổn hại nhưng không quá ba mươi tháng lương tối thiểu.”.

  1. Luật TNBTCNN năm 2009 quy định chưa rõ việc xác định cơ quan giải quyết bồi thường nên có hiện tượng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm giải quyết bồi thường. Luật chưa quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường đối với cơ quan giải quyết bồi thường, dẫn tới việc giải quyết bồi thường của cơ quan quản lý người thi hành công vụ còn vướng mắc hoặc chưa quy định cụ thể về nội dung quản lý, cơ chế phối hợp, cơ chế kiểm tra, thanh tra, giám sát, giải quyết khiếu nạL.đối với hoạt động giải quyết bồi thường nên đã làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
  2. Luật TNBTCNN năm 2009 quy định chưa rõ ràng, cụ thể về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại, trách nhiệm của người ra quyết định hoàn trả dẫn đến việc hoàn trả của người thi hành công vụ còn bị xem nhẹ và chưa được thực hiện thống nhất. Vì vậy chưa bảo đảm tính răn đe, chưa nâng cao trách nhiệm thi hành công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức.

Luật TNBTCNN năm 2009 quy định về trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường chưa chặt chẽ; thủ tục hành chính còn rườm rà, thời hạn giải quyết kéo dài, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho người bị thiệt hại và cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường; việc hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết bồi thường chưa được quy định dẫn đến lúng túng trong giải quyết bồi thường. Có vụ việc người bị thiệt hại không hợp tác, không tham gia thương lượng nhưng không có cơ chế để xử lý và giải quyết dứt điểm; trình tự, thủ tục, trách nhiệm của cơ quan gây thiệt hại trong xin lỗi, cải chính công khai, đăng báo chưa được quy định cụ thể nên việc xin lỗi, cải chính công khai và đăng báo chưa thống nhất, còn hình thức. Quy định về trình tự, thủ tục kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ đề nghị bồi thường để cấp kinh phí bồi thường còn phức tạp, phải qua nhiều cấp có thẩm quyền thẩm định ngay cả khi đã thống nhất về khoản tiền bồi thường nên đã làm chậm việc chi trả tiền bồi thường, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại và uy tín của Nhà nước, do vậy, trên thực tế, chưa có vụ việc nào cấp kinh phí bồi thường, chi trả tiền bồi thường đúng thời hạn.

 

Tải về Download

Tin tức khác