Luật quản lý sử dụng vũ khí
Vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ là những loại phưong tiện đặc biệt, có liên quan trực tiếp đến bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Ngày 30/6/2011, ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; tiếp đó, ngày 12/7/2013, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Quá trình trien khai thi hành Pháp lệnh đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, sau hơn 04 năm tổ chức trien khai thi hành, Pháp lệnh đã bộc lộ hạn chế, bất cập đòi hỏi phải sửa đổi, bố sung đế đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác trong tình hình mới, cụ thể là:
Thứ nhất, tại Khoản 2 Điều 14 và Điều 19 Hiến pháp năm 2013 đã quy định quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng và tính mạng con người được pháp luật bảo hộ, không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật. Việc quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ có liên quan trực tiếp đến những quyền này; vì vậy, cần phải quy định cụ thể việc quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu no và công cụ hỗ trợ ở tầm một đạo luật cho phù họp với quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân.
Thứ hai, Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu no và công cụ hỗ trợ ban hành năm 2011, được sửa đổi, bổ sung năm 2013, nhưng thực tiễn công tác quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ là rất rộng và phức tạp, liên quan đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đặc biệt là liên quan đến tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích họp pháp của công dân. Do đó, một số quy định của Pháp lệnh còn bộc lộ hạn chế, bất cập, chưa đầy đủ và phù họp với các đạo luật có liên quan.
Thứ ba, Pháp lệnh quy định về nguyên tắc và các trường họp được nổ súng trong khi thi hành nhiệm vụ. Tuy nhiên, quy định của Pháp lệnh chưa phù họp với yêu cầu thực tiễn của công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Mặt khác, Pháp lệnh chưa quy định cụ thể về các trường họp được sử dụng công cụ hỗ trợ; việc sử dụng vũ khí thô sơ có liên quan trực tiếp tới tính mạng, sức khỏe con người nhưng Pháp lệnh lại giao Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định là chưa phù họp với quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người và quyền công dân.
Thứ tư, cần thiết bổ sung các quy định về các trường hợp được phép mang vũ khí, công cụ hỗ trợ vào, ra khỏi lãnh thô Việt Nam chưa được quy định trong Pháp lệnh, nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và thống nhất với các quy định của pháp luật như Luật hàng không dân dụng Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014, dự thảo Luật Cảnh vệ...
Thứ năm, hiện nay quy định về trang bị vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ cho các đối tượng còn ở nhiều văn bản pháp luật. Mặt khác, Pháp lệnh đã quy định về đối tượng được trang bị vũ khí, công cụ hỗ trợ, song thực tiễn công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự cho thấy cần phải bổ sung một số đối tượng mới được trang bị vũ khí, công cụ hỗ trợ để bảo đảm thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao. Vì vậy, cần phải quy định các nội dung nêu trên trong Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ cho phù họp với Hiến pháp và thực tiễn hiện nay.
Thứ sáu, do yêu cầu hội nhập quốc tế, Việt Nam đã tham gia nhiều tổ chức quốc tế, tổ chức khu vực và đã trở thành thành viên của nhiều điều ước quốc tế song phương, đa phương liên quan đến vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. Do đó, đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật về công tác quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ để nội luật hóa các quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ của quốc gia thành viên, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho việc chủ động và tăng cường họp tác quốc tế trên lĩnh vực này.
Thứ bảy, để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm, ngăn chặn các hành vi sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng, vận chuyến trái phép vũ khí, vật liệu no và công cụ hỗ trợ, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội thì cần thiết phải sửa đối, bố sung các quy định có liên quan tới công tác quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nô và công cụ hô trợ được quy định tại Pháp lệnh như: bố sung các hành vi bị nghiêm cấm; trình tự, thủ tục và đối tượng được trang bị, sử dụng vũ khí, vật liệu no và công cụ hỗ trợ; trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức được trang bị, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; quy định về no súng; mang vũ khí, công cụ hỗ trợ vào, ra khỏi lãnh thổ Việt Nam; vê sản xuất, xuất khấu, nhập khấu, trang bị, vũ khí, vật liệu nô và công cụ hỗ trợ; bổ sung danh mục các loại vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ; quản lý nhà nuớc về vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. Đồng thời, sửa đổi, bổ sung một số quy định khác cho phù họp yêu cầu bảo đảm an ninh, trật tự và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong tình hình mới.
Nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý, bảo đảm quyền con người, quyền công dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013. Đồng thời, khắc phục những hạn chế, bất cập nêu trên và để tăng cường công tác quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong tình hình mới thì việc xây dựng Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ là cần thiết.
Tải về Download

