Luật cảnh vệ
Ngày 02 tháng 4 năm 2005, úy ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Cảnh vệ. Pháp lệnh Cảnh vệ có hiệu lực thi hành kế từ ngày 01 tháng 10 năm 2005. Pháp lệnh được ban hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng đê lực lượng Cảnh vệ thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, góp phần phục vụ sự nghiệp bảo vệ Dảng, Nhà nước, công tác bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, trước sự phát triển kinh tế - xẫ hội của đất nước cũng như việc bào vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong tình hình mới đă đặt ra các yêu cầu mới, cụ thể là:
Thứ nhất, khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Quyền con người, quyền công dân chỉ có thế bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiêt vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toản xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đông". Vì vậy, xây dựng Luật Cảnh vệ đề cụ thế hóa quy định của Hiến pháp năm 2013, vừa bảo đảm cho hoạt động cùa lực lượng Cảnh vệ được thuận lợi, vừa bảo đảm quyền con người, quyền công dân dược thực hiện theo đúng quy định của Hiến pháp năm 2013.
Thứ hai, trong những năm qua, tình hình an ninh, trật tự ờ trong nước và trên thế giới diễn biến hết sức phức tạp, khó lường, tình hình khủng bố quốc tế có xu hướng gia tăng. Trong khi đó, đất nước ta đang trong quá trinh hội nhập quôc tê, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước thường xuyên đi thăm và làm việc ờ các nước trên thế giới; nước ta cũng ngày càng đón nhiều đoàn nguyên thủ quốc gia, đoàn khách quốc tế, tổ chức nhiều sự kiện chính trị, kinh tế, xẵ hội quan trọng. Vì vậy, yêu cầu đối với công tác cảnh vệ ngày càng nặng nề và phức tạp hơn, cân có các quy định cụ thê tạo cơ sở pháp lý đầy đủ hơn cho lực lượng Cảnh vệ thực thi nhiệm vụ, góp phần bảo đảm an ninh, trật tự trong tình hình mới.
Thứ ba, những năm gần đây, nhiều luật, pháp lệnh như Luật trưng mua, trưng dụng tài sản, Luật hàng không dân dụng Việt Nam được ban hành... Trong đó, có một số quy định chưa thống nhất với Pháp lệnh Cảnh vệ đế tạo thuận lợi cho việc triển khai thực hiện công tác cảnh vệ như: các quy định về huy động phương tiện, tài sản, việc miễn phí cầu đường cho đối tượng cảnh vệ; mang, sử dụng vũ khí trên tàu bay.... Vì vậy, cần xây dựng Luật Cảnh vệ để bảo đảm hành lang pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi để lực lượng Cảnh vệ hoàn thành tốt nhiệm vụ dược giao.
Thứ tư, qua hơn 10 năm triển khai thi hành, Pháp lệnh Cảnh vệ đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập cằn phải được hoàn thiện, cụ thể như:
- Pháp lệnh chưa quy định rõ về trách nhiệm phối họp thực hiện công tác cảnh vệ giữa Bộ Công an với các Bộ, ngành liên quan, giữa lực lượng Cành vệ với các cơ quan của Việt Nam trên lãnh thổ nước ngoài. Hiện nay, việc thực hiện phối họp nàv chủ yếu áp dụng theo quy chế phối hợp nên việc tồ chức công tác cảnh vệ còn bị động, lúng túng.
- Các quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và công dân đối với công tác cảnh vệ còn chung chung, khó thực hiện; chưa quy định cụ thê về chế độ, chính sách của Nhà nước đối với cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, cá nhân bị thương tích, tổn hại về sức khỏe hoặc bị thiệt hại về tính mạng, tài sản trong khi tham gia, phối họp thực hiện công tác cảnh vệ.
- Pháp lệnh chưa quy định cụ thể nội dung, biện pháp và trách nhiệm của các Bộ, ngành liên quan trong thực hiện quản lý nhà nước vê công tác cảnh vệ; chưa quy định về hợp tác quốc tế trong công tác cảnh vệ.
- Từ những lý do nêu trên cho thấy, việc nghiên cứu xây dựng Luật Cảnh vệ là cần thiết.
Tải về Download

